Trang chủHoạt động ngànhGiáo dục sức khỏe

U xương ác tính – Dấu hiệu và hướng điều trị ​

Khối u xương ác tính là bệnh lý nguy hiểm, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chức năng vận động, thậm chí còn gây tàn phế suốt đời hoặc đe dọa sự sống của người bệnh. Tiên lượng sống đối với bệnh nhân mắc u xương ác tính phụ thuộc rất nhiều vào mức độ và loại u mà người bệnh mắc phải cũng như tình trạng di căn. Vì thế, phát hiện sớm để tiến hành điều trị bệnh là yếu tố tiên quyết để cải thiện tiên lượng sống cho người bệnh.

Ảnh minh họa

1. Các loại u xương ác tính

Bệnh u xương ác tính gồm các loại sau:

- U xương ác tính nguyên phát: Khối u hình thành trực tiếp trong xương hoặc các mô lân cận, chủ yếu xảy ra với độ tuổi dưới 30 nhưng có khoảng 10% trường hợp mắc bệnh phát triển ở độ tuổi 60 – 70. Khởi phát của khối u thường ở xương chân tay hoặc xương chậu.

- U xương ác tính thứ phát (di căn): Khối u có thể lây lan đến phần khác của cơ thể hoặc di căn từ phần khác đến xương. Bệnh lý này gồm: đa u tủy, Sarcoma xương, Sarcoma sụn, Ewing’s Sarcoma.

2. Dấu hiệu nhận biết bệnh u xương ác tính

Các dấu hiệu u xương ác tính thường được phát hiện theo giai đoạn phát triển của bệnh:

- Giai đoạn đầu: Dấu hiệu bệnh thường không rõ rệt nên hay bị bỏ qua: có cảm giác đau xương, chân tay đau mỏi, vận động kém.

- Giai đoạn bệnh tiến triển

+ Cảm giác đau xương ngày càng tăng, đau thường xuyên và lan sang các vùng  xung quanh.

+ Tại vùng bị đau có dấu hiệu sưng tấy.

+ Mệt mỏi triền miên, sốt nhẹ.

+ Dễ bị gãy xương.

+ Sờ vào phần xương dài của chi thấy có khối hạch cứng và rắn chắc.

3. Hướng diều trị bệnh u xương ác tính

- Phẫu thuật: Mục tiêu của phương pháp điều trị này nhằm loại bỏ hoàn toàn khối u cùng với một phần mô khỏe mạnh để ngăn chặn nguy cơ tái phát. Việc loại bỏ khối u là cần thiết vì nếu điều này không xảy ra, nguy cơ tái phát và di căn khối u là rất cao. Nếu bệnh ở mức độ nghiêm trọng, có thể bác sĩ sẽ đề nghị loại bỏ chi bị ảnh hưởng do khối u để ngăn chặn các nguy cơ xấu. Sau khi loại bỏ chi, để khôi phục khả năng vận động, người bệnh có thể được đề nghị lắp chi giả.

- Xạ trị: Sử dụng tia X năng lượng cao với mục đích tiêu diệt khối u. Việc làm này có thể phá vỡ DNA của tế bào ung thư bằng cách ngăn ngừa sự phát triển và phân chia của chúng. Kết quả là tế bào u ác tính bị tiêu diệt, quá trình lây lan bệnh được ngăn ngừa hoặc làm chậm lại. Quá trình xạ trị có thể gây ra một số tác dụng phụ như: mệt mỏi, rụng tóc, tiêu chảy, nôn và buồn nôn, vấn đề về tim hoặc tuyến giáp, mãn kinh sớm, thay đổi nội tiết tố,… Ngoài ra, một lượng lớn bức xạ ở một vị trí nhất định, đôi khi có thể làm tăng nguy cơ phát triển khối u ác tính khác.

- Hóa trị: Phương pháp điều trị u xương ác tính này sử dụng thuốc để tiêu diệt khối u. Để tăng hiệu quả điều trị, quá trình trị liệu thường sẽ kết hợp với một số liệu pháp khác như phẫu thuật, liệu pháp hormone hoặc xạ trị. Sự kết hợp này phụ thuộc vào các yếu tố: loại khối u và giai đoạn mắc bệnh, tổng trạng sức khỏe, vị trí khối u, phương pháp điều trị đã từng thực hiện,… Do hóa trị là phương pháp trị liệu toàn thân nên nó có thể gây ảnh hưởng đến toàn bộ cơ thể. Chính điều này đôi khi dẫn đến một số tác dụng phụ như rụng tóc, mệt mỏi, chán ăn, buồn nôn hay nôn, sốt không rõ nguyên nhân,…

CN. Vũ Văn Trình (t/h)

 

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi