Trang chủHoạt động ngànhGiáo dục sức khỏe

Tổn thương do hít khói từ đám cháy

Tổn thương do hít khói là tổn thương gây ra do hít phải những chất khí độc hại, hơi và các hạt bụi chứa trong khói. Nó có thể biểu hiện là tổn thương nhiệt, hóa chất và ngộ độc hệ thống hoặc bất kỳ sự kết hợp nào của những tổn thương này.

Bản chất đám cháy tạo ra khói có chứa nhiều loại hóa chất, các sản phẩm không được đốt cháy hoàn toàn và các hạt rất nhỏ lơ lửng trong không khí có kích thước rất khác nhau. Nhiệt độ không khí trong đám cháy thay đổi rất nhiều và ảnh hưởng đến người hít phải một cách phức tạp.

Ảnh minh họa

1. Tổn thương tại chỗ trực tiếp

Tổn thương nhiệt trực tiếp thường giới hạn trong đường thở trên thanh môn. Phần lớn tổn thương dưới thanh môn là do hóa chất dạng bay hơi và các sản phẩm cháy không hoàn toàn. Tùy vào tác nhân và kích cỡ hạt hít phải, các hạt nhỏ hơn sẽ đi đến các vị trí xa hơn trong đường dẫn khí trước khi lắng đọng. Tác động tại chỗ bao gồm kích ứng, tiết nhầy niêm mạc, co thắt phế quản, tăng lưu lượng máu phế quản và viêm.

2. Viêm thứ phát

Tổn thương do hít khói có thể gây đáp ứng viêm nặng và đa dạng, nó có thể tạo ra các gốc tự do oxy hóa tại chỗ, thu hút các tế bào viêm gây giải phóng các phân tử và cytokine viêm. Ảnh hưởng tại phổi của phản ứng viêm bao gồm co thắt phế quản, co mạch, tăng tiết phế quản và tràn dịch phế nang...

3. Thiếu oxy

Quá trình oxy hóa các chất dễ cháy tiêu thụ nhanh chóng lượng oxy có sẵn. Do đó, hít phải khí thiếu oxy có thể gây tổn thương não do thiếu oxy.

4. Phơi nhiễm carbon monoxide (CO)

Carbon monoxide được thải ra trong quá trình đốt cháy, là một loại khí không màu và không mùi. Nồng độ CO trong khí quyển nói chung <0,001%, nhưng nồng độ CO chỉ 1% là đủ gây tổn thương nặng vì CO hấp thu nhanh chóng qua biểu mô phổi và có ái lực cao với hồng cầu, cao gấp 200-250 lần so với O2. CO gắn với hồng cầu cực kì ổn định, làm giảm giải phóng O2 cho mô. CO còn gắn với myoglobin làm giảm dự trữ O2 trong cơ, ngăn cản sử dụng O2 để tạo ra năng lượng. Ngộ độc CO chiếm đến 80% các ca tử vong do tổn thương hít khói và phần lớn xảy ra trong vòng 24 giờ đầu sau khi bắt đầu hít phải.

5. Phơi nhiễm cyanide

Hydrogen cyanide là một hợp chất dễ bay hơi, hình thành do quá trình cháy không hoàn toàn các nguyên tố cacbon và nitơ trong đám cháy chứa bông, tơ tằm, gỗ, giấy, nhựa, xốp/bọt biển, acrylic và polyme tổng hợp. Sự tái sinh các sản phẩm nhiệt phân trong không gian kín sẽ làm tăng tỉ lệ hình thành hydrogen cyanide, tỉ lệ này có thể tăng lên 10 lần trong môi trường thiếu thông gió.

Hydrogen cyanide có khả năng gắn với ion sắt và vận chuyển trong máu bởi hồng cầu. Trong môi trường nội bào, hydrogen cyanide gắn với enzyme cytochrome c oxidase, ngăn cản hoàn toàn chu kỳ hô hấp và sự hình thành năng lượng, gây nhiễm toan lactic nặng và tử vong trong vòng vài phút sau tiếp xúc với lượng lớn.

6. Nhiễm trùng thứ phát và suy hô hấp

Tổn thương biểu mô nội phế quản và phế nang dẫn đến tăng tiết chất nhầy, làm tăng số lượng mảnh vụn trong đường hô hấp, làm giảm số lượng và hiệu quả làm sạch của lông chuyển. Những vấn đề này góp phần gây tắc nghẽn đường thở nhỏ tiến triển, xẹp phổi, bất tương xứng thông khí/tưới máu và nhiễm trùng, gây khó khăn trong kiểm soát tổn thương do hít khói những ngày sau bị bỏng. Phần lớn ca tử vong trong bệnh viện do tổn thương hít khói là do phát triển những tổn thương thứ phát hơn là tổn thương ban đầu.

Lan Uyển (t/h)

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi