Trang chủHoạt động ngànhGiáo dục sức khỏe

Một số rối loạn tâm thần do rượu

Ảnh minh họa

Ở Mỹ, khoảng 50% dân số dùng bia rượu thường xuyên và 30% có các vấn đề liên quan đến rượu như sử dụng rượu khi lái xe, bỏ học, mất việc do rượu, 14% suốt đời lệ thuộc rượu. Tỷ lệ lạm dụng rượu ở nữ là 5% và ở nam là 10%. Các rối loạn liên quan đến rượu thực sự là mối quan tâm của Tổ chức Y Tế Thế Giới. Nó đứng hàng thứ 3 sau bệnh tim mạch và ung thư.

Lệ thuộc rượu gặp nhiều trong những gia đình mà trẻ con có cha mẹ nghiện rượu. Khi có cha hoặc mẹ bị nghiện rượu thì nguy cơ đứa bé sẽ có nguy cơ nghiện cao hơn so với các trẻ khác.

Tác dụng êm dịu cũng như một số tác dụng khác của rượu làm cho nó thường được sử dụng trong một số nguyên nhân như lo âu, trầm cảm, mất ngủ. Tuy nhiên, sử dụng lâu dài có thể gây nên trầm cảm và ngưng rượu ở người nghiện rượu mãn gây nên lo âu. Nhiều bệnh nhân loạn thần thường sử dụng rượu khi thuốc men không đủ để làm giảm các triệu chứng loạn thần hoặc khi thuốc men tỏ ra không hữu hiệu. Trong số bệnh nhân có rối loạn nhân cách thì người có nhân cách chống đối xã hội dễ dàng bị lệ thuộc rượu nhiều hơn. Nghiện rượu cũng thường đi kèm vói nghiện các chất khác mà đặc biệt là nghiện thuốc lá.

1. Tác dụng của rượu đối với cơ thể

* Hấp thu và chuyển hóa

Khoảng 10% rượu uống vào được hấp thu ở dạ dày, phần còn lại hấp thu ở ruột non. Nồng độ rượu trong máu đạt đến đỉnh cao từ 45 - 60 phút tùy theo tình trạng của dạ dày: khi đói, sự hấp thu nhanh hơn khi no. Khoảng 90% rượu hấp thu vào được chuyển hóa qua quá trình oxid hóa ở gan. 10% còn lại được chuyển hóa và đào thải qua thận và phổi.  

* Tác dụng của rượu đối với não

Rượu có tác dụng ức chế hệ thần kinh. Với nồng độ 0.05% trong máu, quá trình suy nghĩ và phán đoán trở nên lỏng lẻo và đôi khi bị ngưng trệ. Ở nồng độ 0.1%, các cử động tự ý trở nên vụng về. Nồng độ ngộ độc từ 0.1% - 0.15%. Ở nồng độ 0.2%, chức năng toàn bộ vùng vận động của não bị ức chế. Ở 0.3%, người bệnh trở nên lú lẫn và hôn mê. Từ 0.4 - 0.5%, bệnh nhân rơi vào hôn mê.

* Tác dụng của rượu lên các cơ quan khác

Rượu gây độc cho nhiều cơ quan. Sử dụng lâu dài có thể dẫn đến teo não, thoái hóa tiểu não, động kinh, bệnh thần kinh ngoại biên, bệnh cơ tim, bệnh về cơ, viêm gan do rượu, xơ gan, viêm dạ dày, viêm tụy, loét dạ dày và các rối loạn tiêu hóa khác, gây tình trạng dinh dưỡng thiếu hụt vitamin B1, vitamin B12, vitamin PP, folate kèm theo nghiện rượu mãn. Trong thời gian có thai, rượu làm độc cho thai nhi và có thể gây dị dạng.

2. Các rối loạn tâm thần do rượu

* Lệ thuộc và lạm dụng rượu

- Lệ thuộc rượu: dùng nhiều rượu đến nỗi gây tác hại đến sức khỏe, thể chất, tinh thần. Có 3 dạng thường gặp:

(1) Liên tục dùng lượng rượu nhiều.

(2) Chỉ dùng nhiều rượu vào cuối tuần hoặc có trục trặc trong công việc.

(3) Dùng rất nhiều rượu kéo dài vài ngày đến cả tuần xen kẽ với các giai đoạn không uống.

Thường bệnh nhân bị tác động liên quan đến rượu trong các lĩnh vực sau: công việc hay học tập, sức khỏe, quan hệ gia đình, chức năng xã hội, như chỉ gặp các bạn bè cùng uống rượu, hoặc các vấn đề liên quan đến pháp luật như không được chạy xe khi say, hoặc bạo hành liên quan đến rượu.

- Lạm dụng rượu: liên tục sử dụng rượu đến nỗi ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của cá nhân và thường sau đó đi đến lệ thuộc rượu. Người lạm dụng rượu cũng có các dấu hiệu trên nhưng chưa lệ thuộc rượu.

* Nhiễm độc rượu

Người nhiễm độc rượu có ít nhất một trong các dấu hiệu sau: nói lè nhè, mất điều phối, dáng đi lảo đảo, lay giật nhãn cầu, trí nhớ giảm, sững sờ, mặt đỏ. Nhiễm độc nặng có thể đưa đến hành vi thu rút, chậm chạp trong tâm thần vận động, thoáng mất trí nhớ, cuối cùng lơ mơ, hôn mê và chết. Các hậu quả của nhiễm độc rượu có thể là tai nạn xe cộ, chấn thương đầu, gãy xương sườn, hoạt động tội phạm, giết người hoặc tự sát…

Rối loạn trí nhớ tạm thời: xuất hiện trong giai đoạn nhiễm độc, trong đó bệnh nhân hoàn toàn quên việc vừa mới xảy ra mặc dù trong giai đoạn này bệnh nhân còn tỉnh táo. Đôi khi tình trạng này có thể kéo dài cả ngày, trong lúc đó bệnh nhân còn có thể thực hiện các công việc phức tạp như có thể di chuyển trên một quãng đường dài mặc dù sau đó hoàn toàn không nhớ. Thường xuất hiện trên bệnh nhân bị chấn thương sọ não.

* Rối loạn loạn thần gây nên do rượu, gồm các ảo giác (ảo giác do rượu)

Các ảo giác kéo dài, rất sống động (thường ảo thị, ảo thanh), không có mê sảng, thường trong vòng hai ngày sau khi ngưng rượu trên những người lệ thuộc rượu. Có thể kéo dài mãn tính. Thường tiền sử uống rượu trên 10 năm.

* Cai rượu

Bắt đầu xuất hiện nhiều giờ sau ngưng hoặc giảm rượu, trên bệnh nhân nghiện rượu nặng. Các dấu hiệu sau có thể gặp: tăng hoạt động hệ thần kinh thực vật, run tay, mất ngủ, buồn nôn hoặc nôn, nhất thời có ảo giác hoặc ảo tưởng, lo âu, động kinh cơn lớn, kích động tâm thần vận động.

* Mê sảng do cai rượu (sảng run)

Thường xuất hiện sau khi ngưng hoặc giảm uống trên bệnh nhân lệ thuộc rượu. Ít gặp hơn so với cai rượu, không có biến chứng. Một số dấu hiệu đặc trưng:

(1) Mê sảng

(2) Tăng hoạt động hệ thần kinh thực vật rõ rệt: tim nhanh, vã mồ hôi, sốt, lo âu hoặc mất ngủ.

(3) Các dấu hiệu đi kèm: ảo giác sống động, thường là ảo thị, ảo giác xúc giác hoặc ảo khứu; hoang tưởng, kích động, run, sốt, co giật (thường xuất hiện trước mê sảng)

(4) Các biểu hiện đặc trưng: hoang tưởng không hệ thống, ảo thị với hình ảnh các sinh vật nhỏ hoặc côn trùng, ảo giác xúc giác.

Mặc dù sảng run có thể kéo dài từ 4 – 5 tuần, phần lớn các trường hợp thường ổn định sau 3 ngày và nếu điều trị tốt thì tỷ lệ tử vong khoảng 1%.

* Quên kéo dài do rượu

Rối loạn trí nhớ do uống nhiều rượu kéo dài hiếm khi ở người trẻ hơn 35 tuổi. Tên cổ điển là bệnh não Wernicke (các triệu chứng thần kinh cấp tính) và hội chứng Korxakoff (tình trạng mãn tính)

Bệnh não Wernicke: tình trạng cấp tính do thiếu. Biểu hiện bởi lay giật nhãn cầu, liệt vận nhãn, lú lẫn toàn bộ. Các triệu chứng khác như bịa chuyện, ngủ gà, mất khả năng phân biệt, sảng nhẹ, mất ngủ do lo âu, sợ bóng đêm. Thiếu vitamin B1 thường do nghiện rượu mãn. Trị liệu với vitamin B1cho đến khi hết liệt vận nhãn. Có khi cần thêm magnesium. Với trị liệu như vậy hầu hết các triệu chứng phục hồi, ngoại trừ viêm đa dây thần kinh. Hội chứng này mất sau vài ngày, vài tuần hoặc có thể tiến triển thành hội chứng Korxakoff.

Hội chứng Korxakoff: thường liên quan đến nghiện rượu mãn dù vẫn ăn uống đầy đủ. Nguyên nhân do thiếu vitamin B1, hiếm gặp. Bệnh nhân có biểu hiện bịa chuyện, rối loạn định hướng lực, viêm đa dây thần kinh. Thường kèm sa sút do rượu.

Lan Uyển (t/h)

 

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi