Trang chủHoạt động ngànhGiáo dục sức khỏe

Một số hậu quả sớm của chấn thương sọ não

Chấn thương sọ não là một loại chấn thương thường hình thành do hậu quả của tai nạn giao thông và tai nạn lao động, sinh hoạt, bạo lực. Hậu quả của chấn thương sọ não thường để lại những hậu quả nghiệm trọng. Sau đây là một số hậu quả sớm của chấn thương sọ não cần lưu ý để điều trị kịp thời.

Ảnh minh họa

1. Nứt sọ: với đường nứt chỉ phát hiện được trên phim chụp X quang, không cần điều trị đặc biệt, cần phải được theo dõi kỹ vì có thể có nhiều nguy cơ gây tổn thương thứ phát sau này như phù não, tụ máu não...

2. Lõm sọ: Ở trẻ em: Vị trí lõm sọ hầu hết được ghi nhận ở chỗ lồi của xương đỉnh, da bên ngoài thường nguyên vẹn và trông thấy vết lõm rất rõ nên gọi là lõm sọ kiểu “pingpong” giống như quả bóng bàn bị móp. Trong trường hợp này, thường màng não và mô não bên dưới không bị tổn thương. Ở người lớn: thấy xương sọ thường bị vỡ thành nhiều mảnh gài vào nhau như những viên ngói trên mái nhà và lõm sâu xuống. Vì vậy, tỉ lệ bị rách màng não và giập não do các mảnh xương gây nên cần được ghi nhận. Nếu da đầu bị tổn thương trong lúc bị chấn thương sẽ có thêm nguy cơ viêm xương sọ và viêm màng não.

3. Giập não: Trạng thái giập não gồm tổn thương ở các tế bào não và ở các mạch máu não như đứt, đụng giập, huyết khối dẫn đến nhồi máu não, tụ máu não; máu thường chảy vào dịch não tủy. Nếu tình trạng giập não lan vào trong sâu có thể hình thành một khối máu tụ trong mô não, đó là tổn thương thứ phát. Các tổn thương đối diện với nơi va chạm trực tiếp ở da đầu thường ở đáy thùy trán, ở cực thái dương thì não sẽ bị giập do va chạm mạnh vào trần hốc mắt và vào cánh nhỏ của xướng bướm. Trong nhiều trường hợp sẽ hình thành nhanh chóng một khối máu tụ dưới màng cứng ở khu vực đó, đây là một tổn thương thứ phát. Về sau chung quanh khu vực giập não có phù não rõ và cũng là một tổn thương thứ phát. Chính những yếu tố này sẽ làm cho chấn thương diễn biến trầm trọng, có thể gây nên tử vong vì trên thực tế ghi nhận có khoảng 70% các trường hợp bị giập não do tai nạn giao thông ở người dưới 45 tuổi.

4. Vỡ sàn sọ: thường các đường nứt sọ ở vòm sọ sẽ lan xuống đến nền sọ. Đa số các trường hợp nứt thường ở tầng giữa và có liên quan đến xương đá cùng các dây thần kinh sọ não lân cận như: dây thần kinh số III, IV, V, VI, VII, VIII; có khi chảy dịch não tủy hoặc máu ra lỗ tai ngoài. Nếu vỡ sàn sọ ở tầng trước thường thấy tụ não quanh hốc mắt với dấu hiệu đeo kính râm, chảy dịch não tủy hoặc máu ra mũi, tổn thương các dây thần kinh sọ não số I và II. Những trường hợp chảy máu nhiều thường ra mũi, có thể cần phải xử trí ngoại khoa khẩn cấp như thắt động mạch cảnh ngoài một hoặc hai bên. Nếu chảy dịch não tủy ra mũi hoặc ra tai kéo dài, phải mổ khẩn cấp để bịt lỗ rò ở sàn sọ, tránh để nạn nhân tử vong vì bị viêm màng não mủ.

5. Phù não:  đây là hậu quả chung của tất cả mọi chấn thương sọ não nặng. Đầu tiên phù não do mạch bắt nguồn từ tổn thương ở hàng rào máu não, về sau thêm phù não do độc hại tế bào gây nên bởi rối loạn trao đổi chất điện giải giữa, trong và ngoài tế bào. Khối lượng não trong trường hợp này tăng lên, tình trạng phù não thường nặng ở khu vực bị giập não. Vì vậy lại thêm một nguyên nhân làm cho áp lực trọng sọ não tăng lên, đến khi áp lực này cao hơn huyết áp tâm thu, lượng máu cung cấp cho não giảm đi, não lại bị phù nặng hơn vì thiếu máu cục bộ.

6. Máu tụ ngoài màng cứng: nguồn gây nên sự chảy máu thường bắt nguồn từ một đường nứt sọ, nhất là ở trẻ em hoặc từ động mạch màng não bị rách khi chấn thương làm cho nó long ra khỏi rãnh ở mặt trong xương sọ mà nó vẫn áp sát vào trước đây. Máu được kết tụ thành khối, thể tích tăng lên trong vài giờ. Cũng có một số ít trường hợp khối máu tụ tăng chậm trong nhiều ngày sau đó, bệnh nhân vẫn còn tỉnh.

- Máu tụ dưới màng cứng cấp diễn: Thường xảy ra do khu vục bị giập não gây nên, chiếm một tỉ lệ đáng kể các trường hợp máu tụ ở phía đối diện với bên bị va chạm trực tiếp gọi là tổn thương dội đối diện hay phản hướng. Số lượng máu tụ không nhiều nhưng tình trạng nạn nhân rất nguy kịch vì khu vực giập não, phù não bao quanh làm áp lực trong sọ tăng lên rất mạnh. Nếu máu tụ được hình thành khoảng vài giờ sau chấn thương sọ não, máu tụ có thể loãng, màu tím sẫm; nếu diễn biến trong vòng vài ngày sẽ thấy nhiều máu cục. Khi mổ ra thường thấy mô não bị giập nát, chảy ra như hồ, lẫn lộn với máu tụ. Các trường hợp nặng nhất thường dẫn đến tử vong và bao giờ cũng có nhứng điểm chảy máu rải rác trong thân não.

- Máu tụ dưới màng cứng mạn tính: một số nhà khoa học gọi tình trạng máu tụ dưới màng cứng được chẩn đoán sau chấn thương sọ não từ khoảng 3 tuần trở lên là máu tụ bán cấp tính. Trên thực tế có khoảng 20 - 30% nạn nhân bị loại máu tụ này không khai báo được tiền sử rõ ràng vì sau chấn thương rất nhẹ họ không quan tâm đến tổn thương nữa. Cũng có thể sau chấn thương sọ não, họ bị bất tỉnh và quên đi. Vì vậy có thể nhầm lẫn là máu tụ tự phát, chỉ khi nào nạn nhân có rối loạn các yếu tố đông máu hoặc đang dùng lâu dài các loại thuốc chống đông máu mới có thể nghĩ đến máu tụ tự phát. Nguồn chảy máu ở đây thường bắt đầu từ các tĩnh mạch vỏ não hoặc các tĩnh mạch liên lạc. Do tốc độ chảy máu rất chậm, máu loang ra gần khắp bề mặt của bán cầu não, các huyết cầu bị vỡ, thành phần sợi huyết đọng lại thành lớp bao của máu tụ. Bọc máu tụ sẽ trở thành khối huyết tương chứa các thứ phẩm do hiện tượng tan máu sinh ra nên có áp lực thẩm thấu rất cao. Bao máu tụ lâu ngày có một hệ thống mạch máu tân sinh. Vì áp lực cao của chất huyết tương trong bao máu tụ, nước sẽ từ mô não bên dưới và các mạch máu tân sinh của thành bao thẩm thấu làm dung tích khối máu tụ tăng dần và mô não xẹp dần.

Ngoài các bậu quả sớm, chấn thương sọ não có thể gây ra các hậu quả muộn như viêm màng não mủ, tạo lỗ rò động mạch cảnh - xoang hang, tăng áp lực trong sọ…

CN. Vũ Văn Trình (t/h)

 

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi