Trang chủHoạt động ngànhGiáo dục sức khỏe

Lồng ruột ở trẻ em- cần phát hiện sớm, tránh để lại hậu quả nghiêm trọng

Ảnh minh họa

Lồng ruột thường xảy ra ở trẻ em, đặc biệt là những bé có nhu động ruột mạnh.Vì vậy, phụ huynh cần nắm được các dấu hiệu lồng ruột ở trẻ để sớm đưa trẻ đi cấp cứu, can thiệp kịp thời.

1. Lồng ruột là gì?

Lồng ruột là cấp cứu ngoại khoa thường gặp ở trẻ em, xảy ra khi một đoạn ruột chui vào lòng của một đoạn ruột kế cận. Bệnh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi nhưng thường gặp nhất ở trẻ 4 - 9 tháng tuổi, đặc biệt là những trẻ bụ bẫm. Nhiều thống kê cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở bé trai cao hơn so với bé gái, chiếm 70% các trường hợp lồng ruột.

Lồng ruột làm tắc nghẽn, ứ trệ thức ăn phía trên khối lồng (hiện tượng tắc ruột, bán tắc ruột). Bên cạnh đó, các đoạn ruột luôn kèm theo các mạch máu nuôi dưỡng nên khi lồng ruột xảy ra thường làm các mạch máu cũng bị tắc nghẽn theo. Đoạn ruột bị tắc sẽ nhanh chóng bị giãn to, mạch máu bị ứ trệ khiến đoạn ruột bị thiếu máu, dẫn tới quá trình viêm nhiễm, phù nề, hoại tử, xuất huyết.

Trước 48 giờ sau lồng ruột, chỉ có khoảng 2,5% khối lồng ruột bị hoại tử. Sau 72 giờ lồng ruột, tỷ lệ hoại tử khối lồng là 80%. Hoại tử ruột do lồng ruột sẽ dẫn tới hiện tượng nhiễm khuẩn, nhiễm độc nặng, sốc nhiễm khuẩn, thủng ruột gây viêm phúc mạc, khiến bệnh nhi tử vong.

Nếu trẻ bị lồng ruột được đưa đến bệnh viện sớm, bác sĩ chỉ cần tháo lồng ruột bằng hơi. Nếu trẻ được đưa tới viện muộn hoặc khi thủ thuật tháo lồng ruột bằng hơi thất bại, tùy tình hình mà bác sĩ sẽ đưa ra lựa chọn phương pháp phẫu thuật phù hợp.

2. Các dấu hiệu quan trọng bố mẹ cần biết để nhận biết trẻ bị lồng ruột.

Độ tuổi dễ bị lồng ruột là trẻ 4 - 9 tháng tuổi, phổ biến nhất ở trẻ 5 - 6 tháng tuổi;

Khi thấy trẻ có những dấu hiệu bất thường sau đây bố mẹ cần nghĩ tới việc trẻ có thể đang bị lồng ruột:

  • Trẻ đang ăn uống bình thường bỗng nhiên khóc thét, bỏ bú, ngừng chơi, da tím tái báo hiệu khúc ruột đã bắt đầu lồng vào nhau. Sau đó trẻ tạm thời nín khóc, thậm chí bú lại;

  • Khi cơn đau tái phát, trẻ khóc từng cơn, ưỡn người, không bú được, nôn ói ra thức ăn hoặc dịch xanh, dịch vàng;

  • Sau vài giờ trẻ mệt lả, da xanh mượt;

  • Sau khoảng 6 - 12 tiếng, trẻ đi ngoài ra máu tươi hoặc màu nâu, có lẫn chút nhầy. Da trẻ tái, môi khô, mạch nhanh, người lạnh và mắt trũng;

  • trẻ sẽ bị nôn ói liên tục, bụng chướng dần lên, da toàn thân lạnh, nhợt nhạt, mạch nhỏ và nhanh, thở gấp nông, tiểu ít, sốt cao, lờ đờ, hôn mê, dấu hiệu mất nước nặng; có các biểu hiện của nhiễm khuẩn, nhiễm độc, sốc do mất nước hoặc sốc nhiễm khuẩnnếu không được xử trí trong vòng 24 giờ,

  • Sờ vào bụng trẻ có thể thấy khối ruột lồng như một đoạn dồi.

3. Phương pháp xử trí lồng ruột

Thời gian bị lồng ruột quyết định rất nhiều đến phương pháp xử trí bệnh vì vậy khi thấy trẻ khóc thét, bỏ bú, nôn ói điều bố mẹ cần làm ngay lập tức chính là đưa trẻ tới bệnh viện để được chẩn đoán và điều trị kịp thời.

  • Nếu thời gian bị lồng ruột dưới 6 tiếng: Khi xác định trẻ bị lồng ruột, cần tháo khối ruột lồng bằng cách bơm hơi qua hậu môn hoặc thụt thuốc cản quang dưới hướng dẫn của máy chiếu X-quang. Dưới áp lực của hơi hoặc thuốc, khối ruột lồng sẽ được tháo dần;

  • Nếu trẻ được đưa đến viện muộn quá 6 tiếng: cần phẫu thuật ngay để tháo khối ruột lồng;

     -  Trường hợp sau 24 tiếng: ruột đã có dấu hiệu hoại tử, cần phẫu thuật cắt bỏ đoạn ruột đó. Việc chăm sóc và hồi sức sau mổ cũng rất khó khăn và phức tạp, trẻ dễ tử vong do suy kiệt và viêm phổi nặng.

4. Làm gì để phòng tránh lồng ruột ở trẻ em

Do nguyên nhân thực sự gây lồng ruột ở trẻ chưa  đượcxác định rõ nên không có biện pháp dự phòng đặc hiệu. Cách tốt nhất là phụ huynh nhanh chóng nhận biết các dấu hiệu bất thường ở trẻ để phát hiện sớm lồng ruột, tránh các biến chứng nguy hiểm do bệnh gây ra.

Khi trẻ có cơn khóc thét đột ngột, dữ dội, trẻ ưỡn người, bỏ bú, xoắn vặn, ngừng chơi, đau bụng cơn,… thì bố mẹ cần ngay lập tức đưa trẻ đi khám. Các bác sĩ chuyên khoa sẽ nhanh chóng thăm khám, làm thêm các chẩn đoán cận lâm sàng như xét nghiệm máu, xét nghiệm phân, siêu âm ổ bụng, chụp X-quang,... để chẩn đoán xác định và có biện pháp can thiệp kịp thời cho trẻ.

Hy vọng bài viết trên có thể cung cấp cho quý phụ huynh có con nhỏ một số kiến thức để có thể chăm sóc cho trẻ được tốt hơn./.

Gia Khánh (t/h)

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi