Trang chủHoạt động ngànhGiáo dục sức khỏe

Polyp đại trực tràng có thể tiến triển thành ung thư ​

Đa số các polyp đại tràng là những khối u lành tính. Tuy nhiên một số khối u có nguy cơ phát triển thành ung thư vì khi có một trong các khối u tăng sinh quá mức và không được biệt hóa sẽ trở nên ác tính.

Ảnh minh họa

1. Các nguy cơ gây polyp đại trực tràng

- Tuổi: Ung thư đại trực tràng và polyp không phổ biến trước tuổi 40. 90% các trường hợp xảy ra sau 50 tuổi.

- Giới tính: nam giới hay gặp hơn phụ nữ

- Tiền sử gia đình và di truyền học: Khi trong gia đình có người bị polyp và ung thư đại trực tràng thì có xu hướng bệnh sẽ gặp ở nhiều người còn lại trong gia đình. Ngoài ra, một số bệnh di truyền hiếm gặp có thể gây ra tỷ lệ cao bị ung thư đại trực tràng ở lứa tuổi sớm hơn.

2. Các loại polyp đại trực tràng

- Polyp tăng sản: Polyp tăng sản thường nhỏ, nằm ở phần cuối của đại tràng (trực tràng và đại tràng sigma), không có khả năng trở thành ác tính và không đáng lo ngại. Không phải lúc nào cũng có thể phân biệt polyp tăng sản với polyp tuyến qua nội soi, thường phải dựa vào kết quả mô bệnh học sau khi cắt bỏ polyp.

- Polyp tuyến: 2/3 polyp đại tràng là polyp tuyến. Hầu hết các polyp này không phát triển thành ung thư mặc dù chúng có khả năng trở thành ung thư. Adenomas được phân loại theo kích thước, hình dạng chung và các đặc điểm cụ thể của chúng khi nhìn dưới kính hiển vi. Nhìn chung, kích thước của polyp tuyến càng lớn thì khả năng trở thành ung thư càng cao. Do đó, các polyp lớn (lớn hơn 5mm) nên được loại bỏ hoàn toàn để ngăn ngừa phát triển thành ung thư và nên được kiểm tra dưới kính hiển vi xác định chắc chắn.

- Polyp ác tính: Polyp chứa tế bào ung thư được gọi là polyp ác tính. Việc điều trị tối ưu cho polyp ác tính phụ thuộc vào mức độ ung thư (khi được kiểm tra bằng kính hiển vi) và các yếu tố cá nhân khác.

3. Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh polyp đại trực tràng

Hầu hết polyp không gây triệu chứng. Dấu hiệu thường thấy nhất ở bệnh nhân mắc phải bệnh này là chảy máu từ trực tràng hoặc có máu lẫn trong phân, đau bụng vị trí khung đại tràng… Polyp lớn có thể gây đau quặn bụng hoặc gây tắc ruột. Polyp lớn nếu có những chồi nhỏ xíu, dạng ngón tay (nhung mao) có thể tiết muối và nước, gây tiêu chảy phân nước ồ ạt dẫn đến hạ kali máu. Trường hợp hiếm gặp hơn là polyp trực tràng dài có thể sa xuống và thòng qua lỗ hậu môn.

4. Phòng bệnh

- Cần điều chỉnh cân nặng, hoạt động thể lực và chế độ ăn: Giảm cân, tránh béo phì, đặc biệt béo bụng. Luyện tập thể dục, thể thao thường xuyên ;Chế độ ăn nhiều rau, hoa quả, ngũ cốc nguyên hạt, hạn chế thịt đỏ và thịt đã qua chế biến công nghiệp. Không uống nhiều bia, rượu. Không hút thuốc. Bổ sung canxi và vitamin D. Liệu pháp hormone cho phụ nữ mãn kinh: dùng estrogen và progesterone sau khi mãn kinh làm giảm nguy cơ bị ung thư đại trực tràng nhưng có thể làm tăng nguy cơ ung thư vú và bệnh lý tim mạch…

- Thực hiện khám sức khỏe định kỳ, tầm soát ung thư đại tràng ít nhất 6 tháng/ lần.

- Khi có các triệu chứng của bệnh cần đi khám và điều trị theo y lệnh của bác sỹ.

CN. Vũ Văn Trình (t/h)

 

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi