Trang chủHoạt động ngànhGiáo dục sức khỏe

Nhận biết tăng huyết áp thai kỳ ​

Huyết áp cao trong thời mang thai là một trong những nguyên nhân gây ra nhiều biến chứng nguy hiểm. Huyết áp bình thường của bà mẹ mang thai dưới 140/90 mmHg. Khi huyết áp bà mẹ vượt trên 140/90 mmHg được gọi là cao huyết áp. 25% trường hợp thai phụ sinh non là do tăng huyết áp. Biến chứng tiền sản giật là nguy hiểm nhất, nguy cơ gây tử vong cho cả mẹ và thai nhi.

Ảnh minh họa

1. Biểu hiện của tăng huyết áp trong thai kỳ

Cao huyết áp thai kỳ thường xảy ra sau tuần thứ 20 của thai kỳ với một số triệu chứng chính như sau:

- Phù: Là triệu chứng xuất hiện sớm nhất. Thai phụ cảm thấy vùng da mềm, ấn lõm, phù toàn thân, nằm nghỉ không hết (khác với phù sinh lý: phù nhẹ, thường ở chân, mắt cá, khi nằm nghỉ hoặc gác chân lên cao thì phù giảm rõ);

- Tăng cân nhanh: Thể tích dịch cơ thể tăng lên do chức năng thận suy giảm, hơn nữa, thai chèn ép gây ứ trệ tuần hoàn;

- Đạm niêu: Khi huyết áp > 140/90 mmHg, kèm theo dấu hiệu đạm trong nước tiểu (xét nghiệm ở mức trên 300mg/24 giờ) thì được gọi là tiền sản giật. Nếu thai phụ có huyết áp > 160/110 mmHg và lượng đạm trong nước tiểu khoảng từ 5g/24 giờ kèm theo đau đầu, hoa mắt, đau ở vùng thượng vị, thiểu niệu, tăng men gan, suy thận. Lúc này, thai phụ cần được đưa đi cấp cứu kịp thời, tránh để chuyển thành sản giật, đe dọa tính mạng của hai mẹ con.

2. Biến chứng của tăng huyết áp với mẹ và thai nhi

- Đối với mẹ: Nguy hiểm nhất là tác động đối với hệ tim mạch, dẫn đến hiện tượng sản giật - tiền sản giật, nguy cơ tử vong khá cao. Bên cạnh đó, bị tăng huyết áp kèm theo bệnh tim dễ dẫn đến suy tim, cản trở chức năng cầm máu. Ngoài ra, chức năng thận cũng bị ảnh hưởng, khả năng lọc và đào thải suy giảm, khiến thể tích máu tăng lên, có thể gây ra biến chứng nguy hiểm như chảy máu não, đa tạng bị tổn thương, giảm lượng tiểu cầu, máu không đông,...

- Đối với bé: Cao huyết áp ở mẹ sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến thai nhi. Nguy cơ xảy ra tình trạng thai chết lưu trong tử cung, thai bị ngạt thở và chết do thiếu máu cục bộ hoặc sinh non thiếu tháng, nhẹ cân...

3. Dự phòng và điều trị tăng huyết áp thai kỳ

- Phòng bệnh tăng huyết áp tốt nhất là theo dõi huyết áp trước và trong khi mang thai. Nếu phát hiện bị tăng huyết áp mạn tính trước khi mang thai cần được điều trị ổn định tùy theo căn nguyên gây bệnh. Khám thai định kỳ và đo huyết áp mỗi lần khám thai. Trong khi mang thai, nếu có tăng huyết áp đi kèm với đạm trong nước tiểu và phù thì phải nghĩ ngay đến tăng huyết áp do nhiễm độc thai nghén tạo nên một bệnh cảnh gọi là tiền sản giật (nếu như sản phụ lên cơn co giật và kết thúc bằng hôn mê).

- Vì nhiễm độc thai nghén hiện nay vẫn chưa biết rõ nguyên nhân nên vấn đề dự phòng rất khó, chủ yếu là cần phát hiện sớm để điều trị kịp thời, làm xét nghiệm nước tiểu đầy đủ (tháng 1 lần). Sản phụ nếu bị nhiễm độc thai nghén nhẹ thì chỉ cần nghỉ ngơi, nằm nghiêng trái, uống thuốc theo chỉ dẫn của bác sĩ điều trị. Nếu có triệu chứng  nhiễm độc thai nghén nặng thì cần phải được điều trị nội trú tại các cơ sở y tế chuyên khoa. Nhiều trường hợp điều trị nội khoa không kết quả phải mổ lấy thai sớm vì sức khỏe của mẹ và con.

CN. Vũ Văn Trình (t/h)

 

 

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi