Trang chủHoạt động ngànhGiáo dục sức khỏe

Dịch hạch – Bệnh truyền nhiễm nguy hiểm

Dịch hạch là một trong những bệnh truyền nhiễm nổi tiếng lịch sử thế giới, được mệnh danh là “cái chết đen” vì gây tử vong 1 nửa dân số ở một số khu vực và biến những khu thành thị thành bỏ hoang. Bệnh gây ra bởi vi khuẩn Yersinia pestis. Bệnh dễ lây lan, diễn tiến nhanh và nguy hiểm đến tính mạng.

Ảnh minh họa

1. Dấu hiệu bệnh dịch hạch

Theo từng thể lâm sàng mà dấu hiệu dịch hạch cũng khác nhau:

- Thể hạch

+ Thể hạch là thể bệnh phổ biến nhất. 2 – 5 ngày là khoảng thời gian trung bình của giai đoạn ủ bệnh, có thể kéo dài từ vài giờ đến 8 – 10 ngày, người bệnh chưa có dấu hiệu lâm sàng gì.

+ Ở giai đoạn khởi phát, người bệnh sẽ có triệu chứng: Đang khỏe mạnh đột ngột cảm thấy mệt mỏi: Nhức đầu, chóng mặt, buồn nôn, sốt ca, rét run, đau nhức khắp người, đau nhiều ở những vị trí sắp sưng hạch.

+ Ở giai đoạn toàn phát, xuất hiện sau giai đoạn khởi phát vài giờ hoặc 1 – 2 ngày, triệu chứng đặc trưng là viêm hạch ở những vị trí liên quan đến khu vực bị đốt bởi bọ chét và nhiễm trùng nhiễm độc nặng nề. Hạch viêm sẽ sưng to, hóa mủ, tự vỡ và chảy ra mủ lẫn máu nếu không được điều trị sớm. Vết thương sẽ lâu lành và thường để lại sẹo co rúm, rất mất thẩm mỹ. Vùng bẹn, nách, cổ, dưới hàm, dọc cơ ức đòn chũm là các vị trí thường gặp nhất. Toàn thân bệnh nhân có biểu hiện nhiễm độc nhiễm trùng nặng khi ở giai đoạn toàn phát: Sốt: thường sốt cao liên tục hoặc dao động. Bệnh càng nặng sốt càng cao; nhức đầu, chóng mặt, mệt mỏi; li bì, hốt hoảng, có thể có mê sảng; da niêm mạc xung huyết; môi khô, lưỡi bẩn, trắng; tim đập nhanh; thở nhanh; nước tiểu ít, đậm màu; tiêu chảy.

- Dịch hạch thể nhiễm khuẩn huyết

Bệnh dịch hạch thể nhiễm khuẩn huyết có biểu hiện khác với thể hạch, tình trạng này nhiễm trùng nhiễm độc ngay cả khi hạch ngoại vi chưa viêm. Cụ thể các triệu chứng lâm sàng sẽ là: sốt cao, trên 40 độ, kèm rét run; trong các trường hợp nặng hơn, người bệnh bị lích động, mê sảng hoặc li bì; rối loạn hô hấp và tim mạch; bụng chướng, tiêu chảy; xuất huyết da, niêm mạc và các cơ quan. Dịch hạch gây tỷ lệ tử vong cao, trong vòng 1 – 2 ngày đầu có thể tử vong, gọi là “dịch hạch tối cấp”. Thể nhiễm khuẩn huyết có thể tiên phát hoặc thứ phát sau dịch hạch thể hạch, thể phổi tiên phát không được điều trị.

- Dịch hạch thể phổi

Sau thời gian ủ bệnh ngắn, bệnh khởi phát đột ngột, chỉ sau một vài giờ các triệu chứng nhiễm trùng nhiễm độc bắt đầu xuất hiện và nặng dần lên: Sốt rất cao, trên 40 độ, rét run; mệt mỏi, nhức đầu; mạch nhanh, huyết áp giảm; khó thở, thở nhanh nông. Ho nhiều, có đờm và máu, chứa nhiều vi khuẩn;

Dịch hạch thể phổi thứ phát sau thể hạch, thể nhiễm khuẩn huyết thường gặp hơn thể phổi tiên phát, có tiên lượng nặng hơn với tỷ lệ tử vong cao trong vòng 1 đến 2 ngày đầu của bệnh.

- Thể da

Biểu hiện của dịch hạch thể da chỉ lâm sàng tại chỗ: tại vị trí vi khuẩn xâm nhập các nốt dát xuất hiện, sau tiến triển thành mụn nước rồi mụn mủ lẫn máu, khi chạm vào bệnh nhân thấy rất đau. Vùng da xung quanh mụn mủ xung huyết, thâm nhiễm, có gờ cao. Khi vỡ, các mụn mủ để lại vết loét với đáy thâm nhiễm vàng, phủ vảy đen. Các vết loét lâu lành và chậm liền sẹo.

2. Đường lây truyền dịch hạch

- Qua trung gian bọ chét

Con đường phổ biến nhất là lây qua trung gian bọ chét, lây qua đường máu.

Bọ chét hút máu của vật chủ (chuột), vi khuẩn gây dịch hạch sẽ nhân lên trong tiền dạ dày của bọ chét làm tắc nghẽn đường tiêu hóa.

Khi vật chủ của bọ chét chuyển sang người, vi khuẩn sẽ theo vết đốt vào cơ thể vật chủ mới và gây bệnh. Sự lan truyền bệnh sang người chủ yếu từ các loài động vật gặm nhấm như chuột, thỏ…

- Lan truyền trực tiếp

Không cần sự có mặt của vật trung gian truyền bệnh như bọ chét, dịch hạch vẫn có thể lây lan từ vật chủ bệnh sang vật chủ lành.

  • +Hô hấp: hít phải vi khuẩn dịch hạch tồn tại trong không khí do tiếp xúc với dịch hạch thể phổi hoặc vật chủ chết vì dịch hạch.
  • +Tiêu hóa: vì vi khuẩn dịch hạch dễ bị tiêu diệt khi đun sôi, nấu chín nên đây là đường lan truyền ít gặp
  • +Da, niêm mạc: vi khuẩn dịch hạch có thể xâm nhập trực tiếp qua cả da lành và các vết thương hở trên da.

3. Dự phòng dịch hạch

  • +Diệt chuột: định kỳ mỗi năm từ 1 đến 2 lần nên diệt chuột tương ứng với khoảng thời gian sinh sản của loài vật này. Sử dụng các loại hóa chất diệt chuột như Warfarin, Brodifacou. Chỉ sử dụng các dạng thương phẩm đã được cấp phép.
  • +Diệt bọ chét bằng các loại hóa chất được Bộ Y tế cấp phép như permethrin, vectron, diazinon.
  • +Vệ sinh môi trường: đặt bẫy, nuôi mèo, phá vỡ các hang ổ của chuột; bố trí, sắp xếp hàng hóa, nhất là lương thực thực phẩm hợp lý.
  • +Luôn chuẩn bị đầy đủ thuốc điều trị, hóa chất và nhân lực, sẵn sàng đối phó nếu dịch bệnh xảy ra.
  • +Tiêm vắc xin phòng bệnh dịch hạch
  • +Xác chết của bệnh nhân tử vong do dịch hạch cần được quấn bằng vải tẩm chloramine 5%, đặt trong quan tài có rắc vôi bột và chôn cất dưới lòng đất ở độ sâu 2m hoặc hỏa táng.
  • +Cần theo dõi chặt chẽ những người tiếp xúc với người mắc bệnh dịch hạch và điều trị dự phòng bằng thuốc theo chỉ định của bác sỹ chuyên khoa.

CN. Vũ Văn Trình (t/h)

 

Phản hồi

Thông tin người gửi phản hồi